Chữ Việt Nhanh: Cách ghi mới chữ Việt

Go down

Chữ Việt Nhanh: Cách ghi mới chữ Việt

Bài gửi by Admin on 17/3/2018, 11:45

Chữ Việt Nhanh: Cách ghi mới chữ Việt


Trần Tư Bình

A. GIỚI THIỆU

Chữ Quốc ngữ ban đầu được sáng tạo vội vã bởi các giáo sĩ Tây Phương xuất thân từ nhiều nước khác nhau như Bồ Đào Nha, Pháp, Ý, v.v..., hầu dễ dàng hơn cho việc truyền đạo. Chữ Quốc ngữ lúc ban đầu ấy khá khác xa với chữ Việt bây giờ. Quá trình xây dựng chữ Quốc ngữ trải qua rất nhiều năm, với sự góp sức của nhiều người, trong đó có người Việt Nam.

Đến thế kỷ 17, diện mạo chữ Quốc ngữ tạm ổn định với sự ra đời cuốn Từ điển Việt - Bồ Đào Nha – Latin (Dictionarium Annamaticum Lusitinum et Latinum) của giáo sĩ Alexandre de Rhodes, người gốc Pháp. Và qua thế kỷ 18, 19, chữ Quốc ngữ tiếp tục được cải tiến đôi chút và có hình thức như ngày nay.

Dù được ổn định nhưng chữ Quốc ngữ hiện dùng vẫn còn nhiều chỗ dư thừa, chưa hợp lý. Và từ hơn trăm năm nay, vẫn tiếp tục có nhiều bài nghiên cứu hoặc hội nghị bàn về việc cải tiến chữ quốc ngữ để tìm ra cách ghi hoàn hảo hơn cho chữ Việt.

Bài này giới thiệu một cách ghi mới cho toàn bộ chữ Việt, chứ không chỉ cho một số từ thường dùng.
Cách ghi mới được đặt tên là Chữ Việt Nhanh vì đây là cách ghi rất gọn cho chữ Việt.
Chúng hữu ích cho việc:


  • Có thể thay thế cho chữ Quốc ngữ, hoặc góp một số đề nghị cho việc cải tiến chữ Quốc ngữ, nếu việc cải tiến là cần thiết.

  • Khi cần ghi chép nhanh cá nhân, hoặc viết tin nhắn nhanh trên mạng, điện thoại di động, v.v…

  • Cài đặt vào trang “Gõ Tắt” ở các bộ gõ chữ Việt để khi gõ chữ ghi gọn mà máy tính vẫn hiện ra chữ Việt trọn vẹn. Hiện đã được tích hợp trong bộ gõ WinVNKey. Kết quả, tiết kiệm gần 40% thời gian gõ. Xin xem hướng dẫn ở http://chuvietnhanh.sourceforge.net/PhuongPhapMoiGoTatChuViet.htm .


B. QUI ƯỚC GHI MỚI

Có tất cả 34 qui ước ghi mới. Trong đó, 16 qui ước đầu tiên là chúng tôi chọn lọc từ ý kiến của nhiều người khác đã nêu ra khi bàn về vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, hoặc từ cách mà nhiều người thường tự dùng để ghi chép chữ Việt cho nhanh. Và 18 qui ước sau chót là do chúng tôi nghĩ ra.

Xin đọc 34 qui ước theo thứ tự từ trên xuống dưới vì chúng có quan hệ móc xích.
Hiểu được qui ước phía trên thì mới hiểu được các qui ước và ví dụ phía dưới.

B1. Bỏ bớt dấu sắc ở mọi từ có chữ cái cuối là: c, p, t, ch (qui ước):

Mọi từ có chữ cái cuối là: c, p, t, ch (ví dụ: ưc, up, ot, ach ….) thì chỉ mang dấu sắc hoặc dấu nặng.
Khi đọc lên các từ này lúc chưa có dấu, nghe giống như có dấu sắc, ví dụ: ưc-ức, up-úp, ot-ót, ach–ách ….

Do đó, qui ước đầu tiên là:

• Bỏ bớt dấu sắc ở mọi từ có chữ cái cuối là: c, p, t, ch.
Vd: bực tưc = bực tức, nup = núp, trot lọt = trót lọt.

B2. Y và Uy (3 qui ước):

• I thay Y
Vd: i tá = y tá, lí trí = lý trí.

• Ngoại trừ: Vần AY, ÂY vẫn là AY, ÂY
Vd: mây bay = mây bay.

• Y thay UY
Vd: thý = thúy, byt = buýt,  = ủy.

B3. Phụ âm đầu chữ (9 qui ước):

• F thay PH
Vd: fải = phải.

• C thay K
Vd: cín = kín, cể = kể, cẻ = kẻ.

• K thay KH
Vd: ki kó kăn = khi khó khăn.

• Z thay D
Vd:  = dì, zo zự = do dự.

• D thay Đ
Vd: di dâu dó = đi đâu đó.

• J thay GI
Vd: já jì = giá gì, jữ jìn = giữ gìn, zù jì = dù gì.

• G thay GH
Vd:  = ghì, gế = ghế, ge = ghe.

• W thay NG, NGH
Vd: wa = nga,  = nghĩ, wề = nghề, we = nghe.

• Q thay QU
Vd: qay = quay, qân = quân, qôc = quốc, qy = quy, qi = qui.

B4. Phụ âm cuối chữ (3 qui ước):

• G thay NG
Vd: xoog = xoong, trôg mog = trông mong.

• H thay NH
Vd: hoàh = hoành, huêh = huênh, qah = quanh.

• K thay CH
Vd: hoạk = hoạch, wuệk = nguệch, tak bạk = tách bạch.

B5. Vần “Nguyên âm ghép + chữ cái cuối” (18 qui ước):

Đây là mục cuối cùng nhưng quan trọng vì nó trình bày cách ghi rất gọn và có hệ thống cho 52 vần “Nguyên âm ghép + chữ cái cuối”, vốn có 3 hoặc 4 chữ cái, xuống còn chỉ 2 chữ cái. Xin đọc phần này chậm rãi. Nếu đọc lướt thì sẽ khó nắm vững cách ghi rất gọn và có hệ thống.

Tiếng Việt hiện có tất cả 57 vần “Nguyên âm ghép + chữ cái cuối”.
Trong đó, 5 vần: oong, oanh, uênh, oach, uêch đã được ghi là: oog, oah, uêh, oak, uêk như vừa trình bày ở trên (xem ví dụ mục “B4. Phụ âm cuối chữ”).

Còn lại 52 vần “Nguyên âm ghép + chữ cái cuối” sau đây:
- iêt, iêp, iêc, iên, iêm, iêng, iêu (7 vần)
- yêt, yên, yêm, yêng, yêu (5)
- uyêt, uyên (2)
- uôt, uôc, uôn, uôm, uông, uôi (6)
- ươt, ươp, ươc, ươn, ươm, ương, ươi, ươu (Cool
- uơt, uơn (2)
- uât, uân, uâng, uây (4)
- oăt, oăc, oăn, oăm, oăng (5)
- oet, oen, oem, oeo (4)
- oat, oap, oac, oan, oam, oang, oai, oay, oao (9)

52 vần này là sự kết hợp giữa: Các nguyên âm ghép và Các chữ cái cuối.
- Các nguyên âm ghép là: IÊ hay YÊ, UYÊ, UÔ, ƯƠ, UƠ, UÂ, OĂ, OE, OA.
- Các chữ cái cuối là: T, P, C, N, M, NG, I hay Y, O hay U.

52 vần nầy được ghi còn 2 chữ cái, bằng cách:
- Thay nguyên âm ghép bằng 1 nguyên âm đơn.
- Đồng thời, thay chữ cái cuối bằng 1 chữ cái khác.

Thay nguyên âm ghép bằng 1 nguyên âm đơn. Có 9 qui ước và 1 ngoại lệ:
 I thay IÊ hay YÊ
• Y thay UYÊ
• U thay UÔ
• Ư thay ƯƠ
• Ơ thay UƠ
• Â thay UÂ
• Ă thay OĂ
• E thay OE
• O thay OA …… (Ngoại lệ: A thay OA, cho vần oay)

Đồng thời, thay chữ cái cuối bằng 1 chữ cái khác. Có 8 qui ước:
• D thay T
• F thay P
• S thay C
• L thay N
• V thay M
• Z thay NG
• J thay I, Y
• W thay O, U

Ráp 9 nguyên âm đơn vào 8 chữ cái cuối khác, ta ghi được 52 vần trên chỉ còn 2 chữ cái như sau:

- id, if, is, il, iv, iz, iw = iêt, iêp, iêc, iên, iêm, iêng, iêu.
- id, il, iv, iz, iw = yêt, yên, yêm, yêng, yêu (khi i ở đầu từ).
- yd, yl = uyêt, uyên.
- ud, us, ul, uv, uz, uj = uôt, uôc, uôn, uôm, uông, uôi.
- ưd, ưf, ưs, ưl, ưv, ưz, ưj, ưw = ươt, ươp, ươc, ươn, ươm, ương, ươi, ươu.
- ơd, ơl = uơt, uơn.
- âd, âl, âz, âj = uât, uân, uâng, uây.
- ăd, ăs, ăl, ăv, ăz = oăt, oăc, oăn, oăm, oăng.
ed, el, ev, ew = oet, oen, oem, oeo.
- od, of, os, ol, ov, oz, oj, aj (ngoại lệ vần oay), ow = oat, oap, oac, oan, oam, oang, oai, oay, oao.

Do đó, chỉ cần nhớ 18 qui ước trên, ta sẽ nhớ cách ghi mới 52 vần trên.
Sau đây là các ví dụ cho 52 vần ghi mới.

- id, if, is, il, iv, iz, iw = iêt, iêp, iêc, iên, iêm, iêng, iêu.
- id, il, iv, iz, iw = yêt, yên, yêm, yêng, yêu. (khi i ở đầu từ)
Ví dụ:
kid = khiết, zịd = diệt, id = yết.
kif = khiếp, wịf = nghiệp.
tis vịs = tiếc việc.
fil = phiên, íl = yến.
fív = phiếm, wiv = nghiêm, ỉv = yểm.
jíz = giếng, wiz = nghiêng, iz = yêng.
fíw = phiếu, dìw = điều, iw = yêu.

- yd, yl = uyêt, uyên.
Ví dụ:
kyd = khuyết, qyd = quyết, tỵd = tuyệt.
kyl = khuyên, qỳl = quyền, wỹl = nguyễn.

- ud, us, ul, uv, uz, uj = uôt, uôc, uôn, uôm, uông, uôi.
Ví dụ:
nud = nuốt, rụd = ruột.
cus = cuốc.
kul = khuôn, lul = luôn.
lụv thụv = luộm thuộm.
úz = uống.
cúj = cuối.

- ưd, ưf, ưs, ưl, ưv, ưz, ưj, ưw = ươt, ươp, ươc, ươn, ươm, ương, ươi, ươu.
Ví dụ:
lưd = lướt.
cưf = cướp.
dựs = được, zựs = dược, fưs = phước.
lựl = lượn.
bưv bứv = bươm bướm.
fưz = phương, gưz = gương.
tưj cừj = tươi cười.
rựw = rượu.

- ơd, ơl = uơt, uơn.
Ví dụ:
hợd = huợt.
hỡl = huỡn.

- âd, âl, âz, âj = uât, uân, uâng, uây.
Ví dụ:
kâd = khuất, lậd = luật.
kâl = khuân, tầl = tuần.
bâg kâz = bâng khuâng.
kâj kỏa = khuây khỏa.

- ăd, ăs, ăl, ăv, ăz = oăt, oăc, oăn, oăm, oăng.
Ví dụ:
chăd = choắt, wặd = ngoặt.
hặs = hoặc, wăs = ngoắc.
xăl = xoăn.
kăv = khoăm.
hẵz = hoẵng, kắz = khoắng.

ed, el, ev, ew = oet, oen, oem, oeo.
Ví dụ:
ked = khoét, lòe lẹd = lòe loẹt.
hel = hoen.
wev wév = ngoem ngoém.
wẻw = ngoẻo.

- od, of, os, ol, ov, oz, oj, aj (ngoại lệ vần oay), ow = oat, oap, oac, oan, oam, oang, oai, oay, oao.
Ví dụ:
kod = khoát, lọd = loạt.
wof = ngoáp.
kos = khoác, tọs = toạc.
hòl tòl = hoàn toàn.
wọv = ngoạm.
hòz = hoàng, kỏz = khoảng.
kój = khoái, wòj = ngoài.
Ngoại lệ: laj haj = loay hoay.
wow = ngoao.

C. BẢNG TÓM TẮT CÁCH GHI MỚI




Hoặc xem Bảng tóm tắt cách ghi mới Chữ Việt Nhanh ở đường dẫn:
http://chuvietnhanh.sourceforge.net/BangTomTatCachGhiMoiChuVietNhanh(CoDau).pdf

D. HAI ĐOẠN THƠ BẰNG CHỮ GHI MỚI

Một khi nhớ được toàn bộ 34 qui ước ghi mới và hiểu các ví dụ ở trên, ta dễ dàng hiểu hai đoạn thơ viết bằng chữ ghi mới sau đây.

1. Bài thơ “Ông đồ” của Vũ Đình Liên viết bằng chữ ghi mới:
Mỗi năm hoa dào nở
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ôg dồ jà
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu, jấy dỏ
Bày mực tàu, giấy đỏ
Bên fố dôg wừj qa
Bên phố đông người qua

Bao nhiw wừj thuê vid
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tăc wợi ken tài
Tấm tắc ngợi khen tài
“Hoa tay thảo nhữg net
“Hoa tay thảo những nét
Như fựz múa rồg bay”
Như phượng múa rồng bay”

Nhưg mỗi năm, mỗi vắg
Nhưng mỗi năm, mỗi vắng
Wừj thuê vid nay dâu
Người thuê viết nay đâu
Jấy dỏ bùl kôg thấm
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực dọg trog wil sầu
Mực đọng trong nghiên sầu

Ôg dồ vẫn ngồi dấy
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qa dừz kôg ai hay
Qua đường không ai hay
Lá vàg rơi trên jấy
Lá vàng rơi trên giấy
Wòj trời mưa bụi bay
Ngoài trời mưa bụi bay

Năm nay dào lại nở
Năm nay đào lại nở
Kôg thấy ôg dồ xưa
Không thấy ông đồ xưa
Nhữg wừj mul năm cũ
Những người muôn năm cũ
Hồn ở dâu bây jờ
Hồn ở đâu bây giờ?

2. Đoạn đầu “Truyện Kiều” của thi hào Nguyễn Du viết bằng chữ ghi mới:
Trăm năm trog cõi wừj ta
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệh kéo là get nhau
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qa một cụs bể zâu
Trải qua một cuộc bể dâu
Nhữg dìw trôg thấy mà dau dớn lòg
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

Lạ jì bỉ săc tư fog
Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xah qen thói má hồg dáh gen
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen
Cảo thơm lần jở trưs dèn
Cảo thơm lần giở trước đèn
Fog tìh cổ lục còn trỳl sử xah
Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh

Rằg năm Ja Tĩh trìw Mih
Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh
Bốn fưz fẳg lặg hai cih vữg vàg
Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng
Có nhà vil wọj họ Vưz
Có nhà viên ngoại họ Vương
Ja tư wĩ cũg thừz thừz bậc trug
Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung

Một trai con thứ rôt lòg
Một trai con thứ rốt lòng
Vưz Qan là chữ, nối jòg nho ja
Vương Quan là chữ, nối giòng nho gia
Dầu lòg hai ả tố nga
Đầu lòng hai ả tố nga
Thý Cìw là chị, em là Thý Vân
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân

Mai côt cak, tyd tih thần
Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Một wừj một vẻ, mừj fân vẹn mừj
Một người một vẻ, mười phân vẹn mười

E. LỜI CUỐI

1. Ưu điểm Chữ Việt Nhanh.
So với chữ Quốc ngữ thì Chữ Việt Nhanh có các ưu điểm chính sau đây:
• Loại bỏ chữ cái Đ.
• Loai bỏ các nguyên âm ghép như UYÊ, ƯƠ, UÔ, IÊ.
•Thêm vào 4 chữ cái W, F, J, Z.
• Bỏ bớt dấu sắc ở mọi từ có chữ cái cuối là: t, c, p, k, d, s, f.
• Giảm khoảng 15% số chữ cái so với chữ Quốc ngữ.
• Nhiều chữ giảm từ 30% đến 62% số lần gõ phím, nếu cài đặt cách ghi mới vào bộ nhớ “Gõ tắt” trong các phần mềm gõ chữ Việt.
Ví dụ:
- VNI: nghie6ng (gõ 8 lần) = nghiêng, CVN: wiz (gõ 3 lần).
- VNI: khuye16t (gõ 8 lần) = khuyết, CVN: kyd (gõ 3 lần).
- VNI: d9ie61c (gõ 7 lần) = điếc, CVN: dis (gõ 3 lần).
- VNI:  uye6n (gõ 5 lần) = uyên, CVN: yl (gõ 2 lần).
• Chữ Việt Nhanh không dấu ít bị hiểu lầm hơn chữ Quốc ngữ không dấu.
Ví dụ:
- Chữ Quốc ngữ không dấu: dao dien (có thể hiểu là: đạo diễn, đảo điên, dao điện)
- Chữ Việt Nhanh không dấu: dao zil = (đạo diễn), dao dil = (đảo điên), zao dil (dao điện).


2. Đọc Chữ Việt Nhanh.
Ta đọc nguyên vần hoặc chữ, không đánh vần từng chữ cái của vần.
Ví dụ:
- ƯZ (đọc là ương) - FƯZ (đọc là phương, hoặc đánh vần là phờ-ương-phương).
- YD (đọc là uyết) - TỴD (đọc là tuyệt, hoặc đánh vần là tờ-uyêt-tuyêt-nặng-tuyệt).
- AK (đọc là ách) - QAK (đọc là quách, hoặc đánh vần là quờ-ách-quách).

3. Tích hợp vào bộ gõ chữ Việt WinVNKey.
Toàn bộ cách ghi mới (chỉ trừ: i = y, y = uy) được chúng tôi tích hợp vào bộ gõ WinVNKey http://winvnkey.sf.net (của TS. Ngô Đình Học), để tạo ra một phương pháp mới gõ tắt. Gõ chữ ghi mới mà máy tính vẫn hiện ra chữ Quốc ngữ trọn vẹn.

Kết quả, tiết kiệm gần 40% thời gian gõ. Ta tiết kiệm nhiều hơn 40% thời gian gõ nếu tự thêm qui ước gõ tắt một số từ thường dùng (ví dụ: mvt=máy vi tính, vn=Việt Nam, v.v…) vào WinVNKey để dùng chung với phương pháp gõ tắt này.

Chỉ cần tải xuống bản WinVNKey nén sẵn phương pháp gõ tắt này, rồi gõ ngay, chứ không cần cài đặt. Và có thể tải bản nén vào USB để dùng ở bất kỳ máy nào và không cần có internet.

Xin đọc hướng dẫn ở bài “Phương pháp mới gõ tắt chữ Việt” ở http://chuvietnhanh.sf.net/PhuongPhapMoiGoTatChuViet.htm (hoặc https://www.tinhte.vn/threads/phuong-phap-moi-go-tat-chu-viet.2384297/).

4. Gần đây, nhân đọc bài viết này, nhà giáo Đặng Thái Long (Đại học Sư phạm Toán - Hà Nội) thấy vần “ương” có tần suất sử dụng cao trong tiếng Việt nên đã đề nghị khi đứng cuối từ (hoặc đứng một mình), có thể thay thế “ương” bằng chữ z (chỉ dùng khi ghi chép tay riêng tư cho nhanh). Xin mời đọc bài “Hồn Trương Ba – Da hàng thịt” của nhà giáo Đặng Thái Long ở: http://chuvietnhanh.sourceforge.net/HonTruongBaDaHangThit.htm .


F. THAM KHẢO VÀ XUẤT XỨ QUI ƯỚC

1. Tài liệu tham khảo chính:

- Sách Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, Viện Văn Học, Nxb. Văn Hoá, Hà nội, 1961.
- Sách 100 năm phát triển tiếng Việt, Phụng Nghi, Nxb. Văn nghệ, Hoa Kỳ, 1999.

2. Xuất xứ các qui ước:

Một số qui ước là của những người khác. Một số là do chúng tôi nghĩ ra. Sau đây là xuất xứ của từng qui ước:

Bỏ bớt dấu sắc ở vần ngược: Được thấy đầu tiên trong bài viết Một ý kiến về sự sửa đổi chữ quốc ngữ của ông Dương Tự Nguyên (Văn học tạp chí, số 5, 15/10/1932, và các số tiếp theo, trích sách Vấn đề cải tiến chữ quốcngữ, NXB Văn Hoá, Hà Nội, 1961, tr.79).

I thay Y: I thay cho y khi y là nguyên âm duy nhất trong chữ, được thấy trong tự điển Nouveau Dictionnaire Français-Annamite, Imp. de la Mission, Sài Gòn, 1922. (trích sách 100 năm phát triển tiếng Việt, Phụng Nghi, NXB Văn Nghệ, Hoa Kỳ, 1999, tr.134).

Y thay UY: Được thấy đầu tiên trong các tham luận của ông Nguyễn Trọng Phấn, Hoàng Tuỵ, Nông Ích Thuỳ và Phó Đức Thành, đọc tại hội nghị về Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ năm 1960 tại Hà Nội (sđd. Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, tr.309, 335, 341, 348).

F thay PH: Đề nghị của ông Ngô Quang Châu, in trong sách Chữ của dân tộc, Hà Nội, 1946, tr.122. (sđd. Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, tr.62).

C thay K: Đề nghị nầy của ông Ngô Quang Châu, in trong sách Chữ của dân tộc, Hà Nội, 1946, tr.122. (sđd. Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, tr.62).

K thay KH: Được thấy đầu tiên ở các tham luận của ông Hoàng Tuỵ và ông Phó Đức Thành, đọc tại hội nghị về Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, năm 1960 tại Hà Nội. (sđd. Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, tr.335, 348).

Z thay D: Đề nghị nầy được thấy đầu tiên trong sách của ông E. F. Aymonier, Nos transcriptions, Excursions et Reconnaissances, Saigon, 1886, tome XII. (sđd. Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, tr.45).

D thay Đ: Đề nghị nầy của ông Legrand de la Liraye, in trong tự điển Dictionnaire élémentaire annamite-français, Saigon, 1868, tr.3. (sđd. Vấn đề cải tiến chữ quốcngữ, tr.43).

J thay GI và G thay GH: Đề nghị nầy của ông E. F. Aymonier, in trong Nos transcriptions, Excursions et Reconnaissances, Saigon, 1886, tome XII. (sđd. Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, tr.45).

W thay NG và NGH: Gần đây, nhân đọc bài viết này, TS. Nguyễn Vĩnh-Tráng thấy chữ W chưa được dùng ở vị trí phụ âm đầu nên đã đề nghị dùng W thay cho hai phụ âm đầu NG và NGH (W = NG =NGH). Xin mời đọc bài “Có nên thêm phụ âm đầu W trong « Tốc Ký Chữ Việt » chăng?” của TS. Nguyễn Vĩnh-Tráng ở:
http://chuvietnhanh.sf.net/ThemPhuAmDauWTrongTocKyChuViet.htm
(hoặc ở: http://chimviet.free.fr/ngonngu/nguyenvinhtrang/nvtrn054_VietTatChuViet.htm).

Q thay QU: Được thấy trong tham luận của ông Hoàng Tuỵ, đọc tại hội nghị về Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ năm 1960 tại Hà Nội. (sđd. Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, tr.335).

Bỏ bớt N ở phụ âm cuối chữ NG và NH: Đề nghị nầy tuy chưa ai chính thức nêu ra nhưng lâu nay nhiều người vẫn thường bỏ bớt n ở phụ âm cuối ng và nh để viết cho nhanh.

K thay phụ âm cuối chữ CH: Đề nghị này tuy chưa ai chính thức nêu ra nhưng lâu nay nhiều người vẫn thường dùng k thay phụ âm cuối chữ ch để viết cho nhanh.

18 qui ước ghi mới ở mục Vần “Nguyên âm ghép + chữ cái cuối”:
Năm 1976, tình cờ tôi mượn ở thư viện cuốn sách “Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ”, Nxb Văn Hoá, Hà Nội, 1961. Đọc mục lục, tôi ngạc nhiên lắm, vì theo hiểu biết của tôi khi ấy thì chữ quốc ngữ đã hoàn thiện rồi, sao lại có cả một hội nghị bàn về cải tiến chữ quốc ngữ do Viện Văn Học tổ chức tại Hà Nội năm 1960?

Cuốn sách này trình bày những điều bất hợp lý của chữ quốc ngữ, các đề nghị cải tiến chữ quốc ngữ đã có từ trước cho đến thời điểm ấy, v.v…
Đọc sách ấy, tôi hiểu chữ quốc ngữ còn một số hạn chế. Tôi bèn suy nghĩ có cách nào viết hợp lý và gọn hơn không? Tôi đã nghĩ ra 18 qui ước ghi mới có hệ thống cho 52 vần “Nguyên âm ghép + chữ cái cuối”, vốn có 3 hoặc 4 ký tự, xuống chỉ còn 2 ký tự.

Mấy năm gần đây, khi thấy người Việt ‘chat’ trên mạng hoặc viết tin nhắn ở điện thoại di động, họ tốn thời giờ nhiều hơn khi phải viết nguyên các chữ có vần 3 hoặc 4 ký tự mà trước đây tôi đã nghĩ ra cách ghi mỗi vần chỉ còn 2 ký tự. Tôi bèn viết bài “Chữ Việt Nhanh: Cách ghi mới chữ Việt” vào năm 2006.

____________________________

©️ Trần Tư Bình (Email: tubinhtran@gmail.com, Website: Chữ Việt Nhanh http://chuvietnhanh.sf.net).

NGUỒN:
http://chuvietnhanh.sourceforge.net/ChuVietNhanhCachGhiMoiChuViet.htm
http://chuvietnhanh.sourceforge.net/ChuVietNhanhCachGhiMoiChuViet.pdf


Được sửa bởi Admin ngày 12/10/2018, 13:41; sửa lần 11.

_________________
Chữ Việt Forum
www.chuviet.net
avatar
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 202
Join date : 20/09/2012

http://www.chuviet.net

Về Đầu Trang Go down

Re: Chữ Việt Nhanh: Cách ghi mới chữ Việt

Bài gửi by xemaygiahuy on 9/7/2018, 15:59

cám ơn bạn bài viết chi tiết

xemaygiahuy

Tổng số bài gửi : 1
Join date : 09/07/2018

https://atdanang.blogspot.com/

Về Đầu Trang Go down

Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết