Chữ Việt Nhanh: Cách ghi gọn chữ Việt

Go down

Chữ Việt Nhanh: Cách ghi gọn chữ Việt

Bài gửi by Admin on 17/3/2018, 11:45

Chữ Việt Nhanh: Cách ghi gọn chữ Việt
 
Trần Tư Bình
 
 
Bài này trình bày một cách ghi gọn có hệ thống cho toàn bộ chữ Việt, chứ không chỉ cho một số từ thường dùng. Chúng hữu ích cho việc:
 
Góp một số đề nghị cho việc cải tiến chữ quốc ngữ, nếu việc cải tiến là cần thiết.
 
Cài đặt vào trang “Gõ Tắt” ở các bộ gõ chữ Việt để khi gõ chữ ghi gọn mà máy tính vẫn hiện ra chữ Việt trọn vẹn.
Hiện đã được tích hợp trong bộ gõ WinVNKey. Kết quả, chỉ cần gõ tối đa 3 lần phím cho hơn 99.99% từ Việt khi chúng không có dấu gì; và gõ tối đa 4 lần phím khi chúng có dấu: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng. Xin xem hướng dẫn ở http://chuvietnhanh.sourceforge.net/PhuongPhapMoiGoTatChuViet.htm
   
Khi cần ghi chép nhanh cá nhân, hoặc viết tin nhắn nhanh trên mạng, điện thoại di động, v.v… 
 
A. QUI ƯỚC GHI GỌN
 
Xin đọc các qui ước theo thứ tự từ trên xuống dưới vì chúng có quan hệ nối tiếp.
Hiểu được qui ước phía trên thì mới có thể hiểu được các qui ước và ví dụ sau đó.
 
1. Dấu sắc ở vần ngược (một qui ước):
 
Vần ngược là vần chỉ có dấu sắc hoặc dấu nặng, có phụ âm cuối là: c, ch, p, t (Vd: oc, ach, up, ơt, …). Khi đọc vần ngược không có dấu, nghe giống như đọc vần ngược có dấu sắc, như: oc-óc, ach–ách, up-úp, ơt-ớt, ….
 
Do đó, một qui ước đầu tiên là:
• Bỏ bớt dấu sắc ở vần ngược …… Vd: bưc = bức, nup = núp, trot lọt = trót lọt.
 
2. Y và Uy (ba qui ước):
 
• I thay Y …… Vd: i tá = y tá, lí trí = lý trí.
• Ngoại trừ: Vần AY, ÂY vẫn là AY, ÂY …… Vd: ngày ấy = ngày ấy.
• Y thay UY …… Vd: thý = thúy, byt = buýt, lỵ = lụy.
 
3. Phụ âm đầu chữ (chín qui ước):
 
• F thay PH …… Vd: fải = phải.
• C thay K …… Vd: cẻ = kẻ, cể = kể, cín = kín.
• K thay KH …… Vd: ki kó kăn = khi khó khăn.
• Z thay D …… Vd:  = dì, zo zự = do dự.
• D thay Đ …… Vd: di dâu dó = đi đâu đó.
• J thay GI …… Vd: já jì = giá gì, jữ jìn = giữ gìn, zù jì = dù gì.
• G thay GH …… Vd: ge = ghe, gế = ghế,  = ghì.
• W thay NG, NGH …… Vd: we = nghe, wề = nghề,  = nghĩ.
• Q thay QU …… Vd: qay = quay, qên = quên, qệt = quệt.
 
4. Phụ âm cuối chữ (ba qui ước):
 
• G thay NG …… Vd: xoog = xoong, trôg mog = trông mong.
• H thay NH …… Vd: hoàh = hoành, huêh = huênh, qah = quanh.
• K thay CH …… Vd: hoạk = hoạch, wuệk = nguệch, tak bạk = tách bạch.
 
5. Vần “Nguyên âm ghép + chữ cái” (17 qui ước và một ngoại lệ):
 
Đây là phần cuối cùng nhưng quan trọng nhất vì nó trình bày cách ghi gọn có hệ thống cho 52 vần, vốn có 3 hoặc 4 chữ cái, xuống còn chỉ 2 chữ cái mỗi vần.
 
Tiếng Việt hiện có tất cả 57 vần “Nguyên âm ghép + chữ cái”.
Trong đó, 5 vần: oong, oanh, uênh, oach, uêch đã được ghi gọn là: oog, oah, uêh, oak, uêk như vừa trình bày ở trên (xem ví dụ phần A.4 Phụ âm cuối chữ).
 
Còn lại 52 vần:
- IÊ: … iêt, iêp, iêc, iên, iêm, iêng, iêu.
- YÊ: … yêt, yên, yêm, yêng, yêu.
- UYÊ: … uyêt, uyên.
- UÔ: … uôt, uôc, uôn, uôm, uông, uôi.
- ƯƠ: … ươt, ươp, ươc, ươn, ươm, ương, ươi, ươu.
- UƠ: … uơt, uơn.
- UÂ: … uât, uân, uâng, uây.
- OĂ: … oăt, oăc, oăn, oăm, oăng.
- OE: … oet, oen, oem, oeo.
- OA: … oat, oap, oac, oan, oam, oang, oai, oay, oao.
 
52 vần này là sự kết hợp giữa: Các nguyên âm ghép và Các chữ cái cuối.
- Các nguyên âm ghép là: iê hay yê, uyê, uô, ươ, uơ, uâ, oă, oe, oa
- Các chữ cái cuối là: t, p, c, n, m, ng, i hay y, o hay u.
 
52 vần nầy được ghi gọn còn 2 chữ cái cho mỗi vần, bằng cách:
- Rút gọn nguyên âm ghép còn một nguyên âm.
- Đồng thời, thay chữ cái cuối bằng một chữ cái khác.
 
Rút gọn nguyên âm ghép còn một nguyên âm. Có 9 qui ước và 1 ngoại lệ:
• thay IÊ hay YÊ
• Y thay UYÊ
• U thay UÔ
• Ư thay ƯƠ 
• Ơ thay UƠ          
• Â thay U 
• Ă thay OĂ 
• E thay OE 
• O thay OA …… (Ngoại lệ: A thay OA, cho vần “oay”)
 
Thay chữ cái cuối bằng một chữ cái khác. Có 8 qui ước:
• D thay T
• F thay P
• S thay C
• L thay N
• V thay M
• Z thay NG
• thay I, Y
• W thay O, U
 
Ráp 9 nguyên âm rút gọn vào 8 chữ cái cuối khác, ta ghi gọn được 52 vần trên mỗi vần chỉ còn 2 chữ cái.
Do đó, chỉ cần nhớ 18 qui ước trên, ta sẽ hiểu được cách ghi gọn 52 vần trên như sau:
 
- id, if, is, il, iv, iz, iw = iêt, iêp, iêc, iên, iêm, iêng, iêu.
- id, il, iv, iz, iw = yêt, yên, yêm, yêng, yêu. (khi i ở đầu từ)
Ví dụ: fịd = phiệt, id = yết, kid = khiết, zịd = diệt
kif = khiếp, wịf = nghiệp.
tis vịs = tiếc việc.
fil = phiên, íl = yến, qil = quyên.
fív = phiếm, ỉv = yểm, wiv = nghiêm. 
iz = yêng, jíz = giếng, wiz = nghiêng.
fíw = phiếu, íw = yếu, dìw = điều. (12)
 
- yd, yl = uyêt, uyên.
Ví dụ: kyd = khuyết, tyd = tuyết, tỵd = tuyệt.    
kyl = khuyên, lýl = luyến. (2+12=14)
 
- ud, us, ul, uv, uz, uj = uôt, uôc, uôn, uôm, uông, uôi.
Ví dụ: nud = nuốt, rụd = ruột.  
cus = cuốc. 
kul = khuôn, lul = luôn.
lụv thụv = luộm thuộm.
úz = uống.
cúj = cuối. (6+14=20)
 
- ưd, ưf, ưs, ưl, ưv, ưz, ưj, ưw = ươt, ươp, ươc, ươn, ươm, ương, ươi, ươu.
Ví dụ: lưd = lướt.
cưf = cướp. 
dựs = được, zựs = dược, fưs = phước.
lựl = lượn.
bưv bứv = bươm bướm.
fưz = phương, gưz = gương.
tưj cừj = tươi cười.
rựw = rượu. (8+20=28)
 
- ơd, ơl = uơt, uơn.
Ví dụ: hợd = huợt.
hỡl = huỡn. (2+28=30)
 
- âd, âl, âz, âj = uât, uân, uâng, uây.        
Ví dụ: kâd = khuất, lậd = luật.
kâl = khuân, tầl = tuần.   
bâg kâz = bâng khuâng.
kâj kỏa = khuây khỏa. (4+30=34)
 
- ăd, ăs, ăl, ăv, ăz = oăt, oăc, oăn, oăm, oăng.
Ví dụ: chăd = choắt, wặd = ngoặt. 
hặs = hoặc, wăs = ngoắc.        
xăl = xoăn.
kăv = khoăm.
hẵz = hoẵng, kắz = khoắng. (5+34=39)
 
- ed, el, ev, ew = oet, oen, oem, oeo.
Ví dụ: ked = khoét, lòe lẹd = lòe loẹt.
hel = hoen.
wev wév = ngoem ngoém.
wẻw = ngoẻo. (4+39=43)
 
- od, of, os, ol, ov, oz, oj, aj (ngoại lệ cho vần “oay”), ow = oat, oap, oac, oan, oam, oang, oai, oay, oao.
Ví dụ: kod = khoát, lọd = loạt.
wof = ngoáp.        
kos = khoác, tọs = toạc.
hòl tòl = hoàn toàn.
wọv = ngoạm.
hòz = hoàng, kỏz = khoảng.
kój = khoái, wòj = ngoài.
Ngoại lệ: AJ = oay …… Vd: laj haj = loay hoay.
wow = ngoao. (9+43=52)
 
B. BẢNG TÓM TẮT
 
Xin xem Bảng tóm tắt cách ghi gọn Chữ Việt Nhanh ở đường dẫn sau: 
http://chuvietnhanh.sourceforge.net/BangTomTatCachGhiGonChuVietNhanh(CoDau).pdf 


Hoặc xem dưới đây:

 
C. HAI ĐOẠN THƠ CHỮ GHI GỌN
 
Một khi nhớ được toàn bộ qui ước ghi gọn (33 qui ước và 1 ngoại lệ) và hiểu các ví dụ ở trên, ta dễ dàng hiểu hai đoạn thơ viết bằng chữ ghi gọn sau đây.
 
• Bài thơ “Ông đồ” của Vũ Đình Liên viết bằng chữ ghi gọn:
Mỗi năm hoa dào nở

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ôg dồ jà

Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu, jấy dỏ
Bày mực tàu, giấy đỏ

Bên fố dôg wừj qa
Bên phố đông người qua

 
Bao nhiw wừj thuê vid
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tăc wợi ken tài

Tấm tắc ngợi khen tài
“Hoa tay thảo nhữg net

“Hoa tay thảo những nét
Như fựz múa rồg bay”

Như phượng múa rồng bay”
 
Nhưg mỗi năm, mỗi vắg
Nhưng mỗi năm, mỗi vắng 
Wừj thuê vid nay dâu

Người thuê viết nay đâu 
Jấy dỏ bùl kôg thấm

Giấy đỏ buồn không thắm 
Mực dọg trog wil sầu

Mực đọng trong nghiên sầu 

Ôg dồ vẫn wồi dấy 
Ông đồ vẫn ngồi đấy

Qa dừz kôg ai hay 
Qua đường không ai hay

Lá vàg rơi trên jấy 
Lá vàng rơi trên giấy

Wòj trời mưa bụi bay
Ngoài trời mưa bụi bay

Năm nay dào lại nở 
Năm nay đào lại nở

Kôg thấy ôg dồ xưa
Không thấy ông đồ xưa 
Nhữg wừj mul năm cũ

Những người muôn năm cũ 
Hồn ở dâu bây jờ

Hồn ở đâu bây giờ?
 
• Đoạn đầu “Truyện Kiều” của thi hào Nguyễn Du viết bằng chữ ghi gọn:
Trăm năm trog cõi wừj ta                  
Trăm năm trong cõi người ta                 
Chữ tài chữ mệh kéo là get nhau           
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau   
Trải qa một cụs bể zâu                        
Trải qua một cuộc bể dâu                     
Nhữg dìw trôg thấy mà dau dớn lòg        
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng   
 
Lạ jì bỉ săc tư fog                              
Lạ gì bỉ sắc tư phong                           
Trời xah qen thói má hồg dáh gen          
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen  
Cảo thơm lần jở trưs dèn                     
Cảo thơm lần giở trước đèn                  
Fog tìh cổ lục còn trỳl sử xah               
Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh
 
Rằg năm Ja Tĩh trìw Mih         
Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh
Bốn fưz fẳg lặg hai cih vữg vàg
Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng
Có nhà vil wọj họ Vưz
Có nhà viên ngoại họ Vương
Ja tư wĩ cũg thừz thừz bậc trug
Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung
 
Một trai con thứ rôt lòg
Một trai con thứ rốt lòng
Vưz Qan là chữ, nối jòg nho ja
Vương Quan là chữ, nối giòng nho gia
Dầu lòg hai ả tố nga
Đầu lòng hai ả tố nga
Thý Cìw là chị, em là Thý Vân
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân
 
Mai côt cak, tyd tih thần
Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Một wừj một vẻ, mừj fân vẹn mừj
Một người một vẻ, mười phân vẹn mười
 
D. LỜI CUỐI
 
1. Cách ghi gọn nầy được TS. Ngô Đình Học, tác giả bộ gõ WinVNKey http://winvnkey.sf.net , tích hợp toàn bộ cách ghi gọn (chỉ trừ: i = y, y = uy) vào WinVNKey, để tạo ra một phương pháp mới gõ tắt chữ Việt. Gõ chữ ghi gọn mà máy tính vẫn hiện ra chữ Việt trọn vẹn.
Kết quả, chỉ cần gõ tối đa 3 lần phím cho hơn 99.99% từ Việt khi chúng là thanh ngang; và tối đa 4 lần phím khi có dấu: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng.
Chỉ cần nhớ cách ghi gọn, tải xuống WinVNKey và theo hướng dẫn ở bài “Phương pháp mới gõ tắt chữ Việt” ở http://chuvietnhanh.sf.net/PhuongPhapMoiGoTatChuViet.htm(hoặc https://www.tinhte.vn/threads/phuong-phap-moi-go-tat-chu-viet.2384297/).

 
2. Gần đây, nhân đọc bài viết này, nhà giáo Đặng Thái Long (Đại học Sư phạm Toán - Hà Nội) thấy vần “ương” có tần suất sử dụng cao trong tiếng Việt nên đã đề nghị khi đứng cuối từ (hoặc đứng một mình), có thể thay thế “ương” bằng chữ z (nói cách khác, bỏ bớt chữ ư trong tổ hợp ưz của hệ thống CVN hiện hành). Xin mời đọc bài “Hồn Trương Ba – Da hàng thịt” của nhà giáo Đặng Thái Long ở: http://chuvietnhanh.sourceforge.net/HonTruongBaDaHangThit.htm .
 
3. Một số qui ước ghi gọn là của những người khác đã nêu ra khi bàn về vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ hoặc nhiều người đã dùng để ghi gọn chữ Việt.
 
Sau đây là xuất xứ của chúng:
 
Bỏ bớt dấu sắc ở vần ngược: Được thấy đầu tiên trong bài viết của ông Dương Tự Nguyên: Một ý kiến về sự sửa đổi chữ quốc ngữ, Văn học tạp chí, số 5, 15-10-1932, và các số tiếp theo. (trích sách Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, Nxb. Văn Hóa, Hà Nội, 1961, tr.79).
 
I thay Y: I thay cho y khi y là nguyên âm duy nhất trong chữ được thấy trong tự điển: Nouveau Dictionnaire Français-Annamite, Imp. de la Mission, Sài Gòn, 1922. (trích sách 100 năm phát triển tiếng Việt, Phụng Nghi, Nxb Văn Nghệ, Hoa Kỳ, 1999, tr.134).
 
Y thay UY: Được thấy đầu tiên trong các tham luận của ông Nguyễn Trọng Phấn, Hoàng Tụy, Nông Ích Thùy và Phó Đức Thành, đọc tại hội nghị về ‘Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ’ năm 1960 tại Hà Nội. (sđd. Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, tr.309, 335, 341, 348).
 
F thay PH: Đề nghị của ông Ngô quang Châu, in trong sách Chữ của dân tộc, Hà Nội, 1946, tr.122. (sđd. Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, tr.62).
 
C thay K: Đề nghị này của ông Ngô quang Châu, in trong sách Chữ của dân tộc, Hà Nội, 1946, tr.122. (sđd. Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, tr.62).
 
K thay KH: Được thấy đầu tiên ở các tham luận của ông Hoàng Tụy và ông Phó Đức Thành, đọc tại hội nghị về ‘Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ’, năm 1960 tại Hà Nội. (sđd. Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, tr.335, 348).
 
Z thay D: Đề nghị này được thấy đầu tiên trong sách của ông E.F. Aymonier, Nos transcriptions, Excursions et Reconnaissances, Saigon, 1886, tome XII. (sđd. Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, tr.45).
 
D thay Đ: Đề nghị này của ông Legrand de la Liraye, in trong tự điển Dictionnaire élémentaire annamite-français, Saigon, 1868, tr.3. (sđd. Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, tr.43).
 
J thay GI và G thay GH: Đề nghị này của ông E.F. Aymonier, in trong Nos transcriptions, Excursions et Reconnaissances, Saigon, 1886, tome XII. (sđd. Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, tr.45).
 
W thay NG và NGH: Gần đây, nhân đọc bài viết này, TS. Nguyễn Vĩnh-Tráng thấy chữ W chưa được dùng ở vị trí phụ âm đầu nên đã đề nghị dùng W thay cho hai phụ âm đầu NG và NGH (W = NG =NGH). Xin mời đọc bài “Có nên thêm phụ âm đầu W trong « Tốc Ký Chữ Việt » chăng?” của TS. Nguyễn Vĩnh-Tráng ở:
http://chuvietnhanh.sf.net/ThemPhuAmDauWTrongTocKyChuViet.htm (hoặc ở http://chimviet.free.fr/ngonngu/nguyenvinhtrang/nvtrn054_VietTatChuViet.htm).
 
Q thay QU: Được thấy trong tham luận của ông Hoàng Tụy, đọc tại hội nghị về ‘Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ’ năm 1960 tại Hà Nội. (sđd. Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, tr.335).
 
Bỏ bớt N ở phụ âm cuối chữ NG và NH: Đề nghị này tuy chưa ai chính thức nêu ra nhưng lâu nay nhiều người vẫn thường bỏ bớt n ở phụ âm cuối ng và nh để viết cho nhanh.
 
 _________________________
© Trần Tư Bình (Email: tubinhtran@gmail.com, Website: Chữ Việt Nhanh http://chuvietnhanh.sf.net ,
Facebook: http://facebook.com/tubinhtran).

_________________
Chữ Việt Forum
www.chuviet.net
avatar
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 182
Join date : 20/09/2012

http://www.chuviet.net

Về Đầu Trang Go down

Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết