Chữ Việt Nhanh: Một kiểu chữ Việt cải tiến

Go down

Chữ Việt Nhanh: Một kiểu chữ Việt cải tiến Empty Chữ Việt Nhanh: Một kiểu chữ Việt cải tiến

Bài gửi by Admin on 28/4/2019, 13:49

Chữ Việt Nhanh: Một kiểu chữ Việt cải tiến
 
Trần Tư Bình
 
 
A. Dẫn nhập
B. Đề xuất cải tiến
C. Lời cuối
D. Bảng tóm tắt


A. DẪN NHẬP
 
Chữ Quốc ngữ được các linh mục đến từ châu Âu sáng chế vào đầu thế kỉ 17 để việc truyền đạo của họ được dễ dàng hơn. Lúc đó, hình thức chữ Quốc ngữ rất khác so với hiện nay.
Đến năm 1651, chữ Quốc ngữ tạm ổn định với sự ra đời cuốn Từ điển An Nam - Bồ Đào Nha – La tinh của giáo sĩ Đắc Lộ Alexandre de Rhodes, người gốc Pháp.
Và suốt thế kỉ 18 và 19, chữ Quốc ngữ tiếp tục được cải tiến bởi nhiều người và rồi có hình thức như hiện nay.

Dù được chỉnh sửa nhiều lần nhưng chữ Quốc ngữ vẫn còn nhiều chỗ bất hợp lí. Nguyên nhân các bất hợp lí là do các linh mục chịu ảnh hưởng của chữ viết ở nước họ mà ra.

Đến cuối thế kỷ 19, thực dân Pháp thấy chữ Quốc ngữ là công cụ cai trị đắc lực nên họ nhanh chóng áp dụng làm văn tự chính thức cho tiếng Việt, mang theo các bất hợp lí chưa được cải tiến rốt ráo.
 
1. Các bất hợp lí của chữ Quốc ngữ

Các bất hợp lí dễ thấy như:

  • Âm /cờ/ khi thì viết C (ca, co…), khi thì viết K (kín, kê, kẻ).
  • Âm /gờ/ khi thì viết G (ga, gò…), khi thì viết GH (ghi, ghê, ghe).
  • Âm /ngờ/ khi thì viết NG (nga, ngò…), khi thì viết NGH (nghi, nghề, nghe).
  • Âm /i/ khi thì viết Y (kỳ, lý…), khi thì viết I (thi, trí…).
  • Chữ “ga, gò…” thì đọc âm /gờ/, còn chữ “gì” (cái gì) thì đọc âm /giờ/.
  • Chữ Quốc ngữ là lối viết có nhiều dấu phụ nhất (dấu râu, dấu mũ, dấu giọng…).

Các bất hợp lí khó thấy mà một số chuyên gia ngôn ngữ đã nêu ra như:

  • Các cặp nguyên âm đôi ia/iê, ua/uô, ưa/ươ thật ra chỉ là một, nhưng khi thì viết ia, ua, ưa; khi thì viết iê, uô, ươ(¹)
  • Các âm tiết: iêm, iên, iêt, iêu, iêng đứng một mình thì lại viết là yêm, yên, yêt, yêu, yêng. (²)
  • Nguyên âm đôi [iƏ] khi thì viết ia (tia), khi thì viết  (tiên), khi thì viết ya (giặt giỵa).
  • Cặp nguyên âm ghép uya/uyê thật ra chỉ là một, nhưng khi thì viết uya (khuya); khi thì viết uyê (khuyên).

Vì còn các bất hợp lí trên, cho nên nhiều năm qua, vẫn còn có các hội nghị và các bài viết bàn về cải tiến chữ Quốc ngữ.
Tiếc là đến nay, chưa có đề nghị cải tiến nào vừa hợp lí vừa giản tiện, giải quyết được các tất cả các bất hợp lí nêu trên. Và cũng vì hoàn cảnh đất nước chưa thuận tiện; cho nên việc cải tiến chữ Quốc ngữ vẫn chưa thể thực hiện.

2. Lợi và hại của việc cải tiến chữ Quốc ngữ
Dù chữ Quốc ngữ hiện nay đang vận hành hiệu quả và chưa có nhu cầu cấp thiết cải tiến chữ viết nhưng việc tìm ra một cách ghi tối ưu, hợp lí và ngắn gọn hơn cho tiếng Việt vẫn là việc nên làm, vì thiết nghĩ đang vận hành hiệu quả không có nghĩa là không thể vận hành hiệu quả hơn hiện nay.

Tìm được một cách ghi tối ưu, hợp lí hơn và giản tiện hơn cho chữ Việt thì dù phải tốn công phu học lại chữ viết mới, thì cũng không sao, bởi vì chúng ta sẽ có những khoản tiết kiệm lớn hơn rất nhiều để bù lại.

Trước hết, chữ Quốc ngữ cải tiến tối ưu chắc chắn sẽ dễ học hơn. Những người Việt sau này, kể cả người nước ngoài hay các dân tộc thiểu số trong nước, học chữ cải tiến sẽ học nhanh chóng hơn. Chưa kể tiết kiệm được rất nhiều giấy mực, vật liệu làm bảng hiệu, thời gian viết gõ, v.v….

Một khi tìm được cách ghi hợp lí và giản tiện hơn cho chữ Việt rồi, dựa vào nó thì việc tạo chữ viết cho các dân tộc thiểu số hoặc chữ nổi cho người khiếm thị sẽ được hợp lí hơn, tránh được những bất hợp lí quá rõ rệt của chữ Quốc ngữ.

Sẽ có người quan ngại nếu thực hiện cải tiến chữ Quốc ngữ thì di sản văn hóa khổng lồ và thói quen của toàn dân từ nhỏ đến lớn, làm sao có thể thay đổi được mà không gây ra sự phiền toái. Hoặc cho rằng cải tiến sẽ kéo theo chi phí tốn kém trong việc học lại chữ cải tiến, và còn động chạm đến giấy tờ giao dịch, con dấu, thậm chí tiền tệ, v.v….

Những ai quan ngại, xin hãy xem người Trung Quốc đã thực hiện thành công cải tiến chữ Hán, từ phồn thể (Traditional Chinese Characters) qua giản thể, vào giữa thế kỷ 20, dù di sản văn hóa của họ còn khổng lồ hơn nhiều lần và thói quen của toàn dân Trung Quốc là cả vài ngàn năm qua, chứ không phải chỉ hơn trăm năm như ở chữ Quốc ngữ.

3. Vì sao có bài viết này?
Năm 1976, tình cờ tôi mượn ở thư viện cuốn sách “Vấn đề cải tiến chữ Quốc ngữ”, Nxb Văn Hoá, Hà Nội, được in năm 1961 nhằm ghi lại nội dung Hội nghị bàn về vấn đề cải tiến chữ Quốc ngữ do Viện Văn Học tổ chức tại Hà Nội năm 1960.

Cuốn sách này trình bày những bất hợp lí của chữ Quốc ngữ, các cải cách chữ Quốc ngữ qua những cuộc thảo luận từ trước đến thời điểm ấy, và hơn 20 bài tham luận đọc ở hội nghị.
Mới đọc mục lục sách, tôi ngạc nhiên lắm, vì theo hiểu biết của tôi khi đó thì chữ Quốc ngữ đã hoàn thiện và tuyệt vời rồi, sao lại có cả một hội nghị bàn về cải tiến chữ Quốc ngữ?

Đọc sách xong, tôi hiểu chữ Quốc ngữ còn một số bất hợp lí. Lúc đó, tôi bèn suy nghĩ có cách nào viết hợp lí và gọn hơn không? Tôi đã nghĩ ra cách ghi gọn và hệ thống cho 52 vần “Nguyên âm ghép và chữ cái cuối” (vốn có 3 hoặc 4 chữ cái) xuống chỉ còn 2 chữ cái mỗi vần.
Từ đó, tôi bắt đầu sưu tầm các tài liệu về vấn đề cải tiến chữ Quốc ngữ.

Nay xin chọn ra một số đề xuất của những người khác và kết hợp với một số đề xuất tự nghĩ ra, chúng tôi xin đề xuất một kiểu chữ Việt cải tiến vừa hợp lí vừa giản tiện, giải quyết được các tất cả các bất hợp lí nêu trên của chữ Quốc ngữ.

Các đề xuất này hữu ích cho việc:

  • Có thể thay thế chữ Quốc ngữ hoặc gợi một số ý cho việc cải tiến chữ Quốc ngữ, nếu việc cải tiến là cần thiết.

  • Cài đặt vào trang “Gõ Tắt” ở các bộ gõ chữ Việt để khi gõ chữ cải tiến mà máy tính vẫn hiện ra chữ Quốc ngữ. Hiện đã được tích hợp trong bộ gõ WinVNKey và S-Key.

  • “Chat” trên mạng, viết tin nhắn ở điện thoại di động, v.v…


Kiểu chữ Việt cải tiến này được đặt tên là Chữ Việt Nhanh vì đây là cách ghi rất gọn, hợp lí và khoa học.
Kính mong độc giả góp ý cho chúng tôi cũng như chia sẻ bài này nếu quí vị đồng ý với quan điểm bài viết.

B. ĐỀ XUẤT CẢI TIẾN
 
Lưu ý: Xin đọc các đề xuất từ trên xuống dưới vì chúng có quan hệ nối tiếp, móc xích. Cũng xin đọc các ví dụ để dễ nhớ các đề xuất.
 
1. Bỏ bớt dấu sắc ở mọi từ có chữ cái cuối là: c, p, t, ch (1 đề xuất)
 
• Bỏ bớt dấu sắc ở mọi từ có chữ cái cuối là: c, p, t, ch. …… Vd: bực tưc = bực tức, nup = núp, trot lọt = trót lọt.
 
2. Y và Uy (3 đề xuất)
 
• thay Y …… Vd: i tá = y tá.
• Y thay UY …… Vd: thý = thúy, byt = buýt.
• Ngoại lệ: vần AY, ÂY giữ nguyên AY, ÂY …… Vd: mây bay = mây bay.
 
3. Phụ âm đầu chữ (9 đề xuất)
 
• F thay PH …… Vd: fải = phải.
• Q thay QU …… Vd: qay = quay, qân = quân, qôc = quốc, qi = qui, qy = quy.
• C thay K …… Vd: cín = kín, cê = kê, cẻ = kẻ.
• K thay KH …… Vd: ki kó kăn = khi khó khăn.
• Z thay D …… Vd: zì = dì, zo zự = do dự.
• D thay Đ …… Vd: di dâu dó = đi đâu đó.
• J thay GI …… Vd: já jì = giá gì, jữ jìn = giữ gìn, jặt jịa = giặt giỵa (vì i thay y).
• G thay GH …… Vd: gì = ghì, gê = ghê, ge = ghe.
• W thay NG-NGH …… Vd: wa = nga, wĩ = nghĩ, wề = nghề, we = nghe.
 
4. Phụ âm cuối chữ (3 đề xuất)
 
• G thay NG …… Vd: mag = mang, xoog = xoong.
• H thay NH …… Vd: bah = banh, hoàh = hoành, huêh = huênh.
• K thay CH …… Vd: tak bạk = tách bạch, hoạk = hoạch, wuệk = nguệch.
 
5. Năm mươi hai vần “Nguyên âm ghép và chữ cái cuối” (18 đề xuất)
 
Hãy xem 52 vần “Nguyên âm ghép và chữ cái cuối” sau:
- uyêt, uyên.
- iêt, iêp, iêc, iên, iêm, iêng, iêu.
- yêt, yên, yêm, yêng, yêu.
- uôt, uôc, uôn, uôm, uông, uôi.
- ươt, ươp, ươc, ươn, ươm, ương, ươu, ươi.
- uât, uân, uâng, uây.
- uơt, uơn.
- oăt, oăc, oăn, oăm, oăng.
- oet, oen, oem, oeo.
- oat, oap, oac, oan, oam, oang, oao, oai, oay.

52 vần này có
- Các nguyên âm ghép là: UYÊ, IÊ, YÊ, UÔ, ƯƠ, UÂ, UƠ, OĂ, OE, OA.
- Và các chữ cái cuối là: T, P, C, N, M, NG, O, U, I, Y.

52 vần nầy được kí âm cải tiến còn 2 chữ cái mỗi vần, theo qui tắc cùng lúc sau đây:
- Rút gọn nguyên âm ghép còn một nguyên âm.
- Đồng thời, thay chữ cái cuối bằng chữ cái khác.

• Rút gọn nguyên âm ghép còn một nguyên âm. Có 9 đề xuất và 1 ngoại lệ:

  • UYÊ rút còn Y.
  • IÊ-YÊ ……… I.
  • UÔ ………… U.
  • ƯƠ ………… Ư.
  • UÂ ………… Â.
  • UƠ ………… Ơ
  • OĂ ………… Ă.
  • OE ………… E.
  • OA ………… O (ngoại lệ: rút còn A ở vần “oay”).

• Đồng thời, thay chữ cái cuối bằng chữ cái khác. Có 8 đề xuất:

  • T thay bằng D.
  • P ………… F.
  • C ………… S.
  • N ………… L.
  • M ………… V.
  • NG ……… Z.
  • O-U ……… W.
  • I-Y ……… J.

Ráp 9 nguyên âm rút gọn vào 8 chữ cái cuối khác, ta ghi được 52 vần trên mỗi vần chỉ còn 2 chữ cái, như sau:
(Như vậy, chỉ cần nhớ 18 đề xuất trên, ta dễ dàng nhớ được 52 vần cải tiến nầy)

- uyêt, uyên = yd, yl.
- iêt, iêp, iêc, iên, iêm, iêng, iêu = id, if, is, il, iv, iz, iw.
- yêt, yên, yêm, yêng, yêu = id, il, iv, iz, iw.
- uôt, uôc, uôn, uôm, uông, uôi = ud, us, ul, uv, uz, uj.
- ươt, ươp, ươc, ươn, ươm, ương, ươu, ươi = ưd, ưf, ưs, ưl, ưv, ưz, ưw, ưj.
- uât, uân, uâng, uây = âd, âl, âz, âj.
- uơt, uơn = ơd, ơl.
- oăt, oăc, oăn, oăm, oăng = ăd, ăs, ăl, ăv, ăz.
- oet, oen, oem, oeo = ed, el, ev, ew.
- oat, oap, oac, oan, oam, oang, oao, oai, oay = od, of, os, ol, ov, oz, ow, oj, aj (ngoại lệ: vần oay).

Lưu ý: Tuy cách viết vần cải tiến khác với vần Quốc ngữ nhưng khi đọc thì ta vẫn đọc như nhau.
Ví dụ: YL (đọc cả cụm vần là uyên), THỲL (đọc là thuyền, hoặc ráp vần là thờ-uyên-thuyên-huyền-thuyền).

Sau đây là các ví dụ cho 52 vần cải tiến. Các ví dụ bao gồm tất cả đề xuất ở các phần trên để cho thấy nhiều chữ Việt được kí âm rất gọn:

  • yd = uyêt ...... Vd: kyd = khuyết, qyd = quyết.
  • yl = uyên ...... Vd: wỹl = nguyễn, qỳl = quyền. (2)


  • id = iêt, yêt ......... Vd: vid = viết, id = yết.
  • if = iêp ................ Vd: wịf = nghiệp.
  • is = iêc ................ Vd: tis vịs = tiếc việc.
  • il = iên, yên ......... Vd: fil = phiên, íl = yến.
  • iv = iêm, yêm ...... Vd: fív = phiếm, ỉv = yểm. 
  • iz = iêng, yêng ...... Vd: jíz = giếng, wiz = nghiêng, iz = yêng.
  • iw = iêu, yêu ....... Vd: fíw = phiếu, iw = yêu. (2+12=14)


  • ud = uôt ...... Vd: nud = nuốt, rụd = ruột. 
  • us = uôc ...... Vd: cus = cuốc.       
  • ul = uôn ...... Vd: lul = luôn.
  • uv = uôm ...... Vd: lụv thụv = luộm thuộm.
  • uz = uông ...... Vd: úz = uống.
  • uj = uôi ...... Vd: cúj = cuối. (20)


  • ưd = ươt ...... Vd: lưd = lướt.
  • ưf = ươp ...... Vd: cưf = cướp.       
  • ưs = ươc ...... Vd: dựs = được, fưs = phước.
  • ưl = ươn ...... Vd: lựl = lượn.
  • ưv = ươm ...... Vd: bưv bứv = bươm bướm.
  • ưz = ương ...... Vd: fưz = phương, gưz = gương.
  • ưw = ươu ...... Vd: rựw = rượu.
  • ưj = ươi ...... Vd: tưj cừj = tươi cười. (28)


  • âd = uât ...... Vd: kâd = khuất, lậd = luật.
  • âd = uât ...... Vd: kâl = khuân, tầl = tuần.
  • âz = uâng ...... Vd: bâg kâz = bâng khuâng.
  • âj = uây ...... Vd: kâj kỏa = khuây khỏa. (32)


  • ơd = uơt ...... Vd: hợd = huợt.
  • ơl = uơn ...... Vd: hỡl = huỡn. (34)


  • ăd = oăt ...... Vd: chăd = choắt, wặd = ngoặt. 
  • ăs = oăc ...... Vd: hặs = hoặc, wăs = ngoắc.       
  • ăl = oăl ...... Vd: xăl = xoăn.
  • ăv = oăm ...... Vd: kăv = khoăm.
  • ăz = oăng ...... Vd: hẵz = hoẵng, kắz = khoắng. (39)


  • ed = oet ...... Vd: ked = khoét, lòe lẹd = lòe loẹt.
  • el = oen ...... Vd: hel = hoen.
  • ev = oem ...... Vd: wev wév = ngoem ngoém.
  • ew = oeo ...... Vd: wẻw = ngoẻo. (43)


  • od = oat ...... Vd: kod = khoát, lọd = loạt.
  • of = oap ...... Vd: wof = ngoáp.     
  • os = oac ...... Vd: kos = khoác, tọs = toạc.
  • ol = oan ...... Vd: hòl tòl = hoàn toàn.
  • ov = oam ...... Vd: wọv = ngoạm.
  • oz = oang ...... Vd: hòz = hoàng, kỏz = khoảng.
  • ow = oao ...... Vd: wow = ngoao.
  • oj = oai ...... Vd: kój = khoái, wòj = ngoài.
  • aj = oay ...... Ngoại lệ: Vd: laj haj = loay hoay. (52)


 6. Cách đọc chữ cải tiến
Chữ cải tiến tuy khác với chữ Quốc ngữ nhưng khi đọc và ráp vần thì ta vẫn đọc và ráp vần như ở chữ Quốc ngữ theo hướng sư phạm mới.

Theo sư phạm mới trong việc dạy đọc và ráp vần, có 2 phương pháp phổ biến là:

Phương pháp ráp vần xuôi: dạy học sinh phát âm được cả cụm VẦN, rồi chỉ việc ráp phụ âm đầu vào để đọc thành tiếng.
Ví dụ: THUYỀN. Học sinh được dạy cách phát âm cả cụm vần “uyên” là “uyên” (không đánh vần kiểu cổ điển: u-y-ê-nờ-uyên hay u-i-cờ rếch-ê-nờ-uyên).
Và rồi bất cứ chữ nào có vần này, học sinh nhận diện được và đánh vần như sau: “Thờ-uyên-thuyên-huyền-thuyền”.
Phương pháp này tốt nhất, nhưng giáo viên phải dạy học sinh phát âm được cụm VẦN trước khi chính thức ráp vần.

Phương pháp tập đọc tự nhiên: Cho học sinh các bài tập đọc với những chữ thông dụng hợp trình độ. Đọc trước cho các em vừa đọc theo vừa nhận mặt chữ. Sau đó cho các em tự đọc buông một mình.
Đây là phương pháp học đọc rất phổ biến ở nhiều nước như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Trung Hoa, v.v… trong việc dạy ngôn ngữ: Anh, Pháp, Hoa, v.v…. (³)

Sau đây là vài ví dụ cách đọc và ráp vần chữ cải tiến Chữ Việt Nhanh:
- AG (đọc là ang), MAG (đọc là mang, hoặc ráp vần là mờ-ang-mang).
- AK (đọc là ách) SẠK (đọc là sạch, hoặc ráp vần là sờ-ach-sach-nặng-sạch).
- YL (đọc là uyên) THỲL (đọc là thuyền, hoặc ráp vần là thờ-uyên-thuyên-huyền-thuyền).
- IZ (đọc là iêng) WIZ (đọc là nghiêng, hoặc ráp vần là ngờ-iêng-nghiêng).

7. Bài thơ viết bằng chữ cải tiến
Một khi nhớ được toàn bộ đề xuất và hiểu các ví dụ ở trên, ta dễ dàng hiểu bài thơ viết bằng chữ cải tiến sau đây.

Bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan viết bằng chữ cải tiến:

Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Bưs tới Dèo Wag, bóg xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
Cỏ cây chen dá, lá chen hoa
Lom khom dưới núi, tiều vài chú
Lom kom zứj núi, tìw vài chú
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
Lac dac bên sôg, chợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,
Nhớ nưs dau lòg, con qôc qôc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Thưz nhà mỏi mịz, cái ja ja.
Dừng chân đứng lại trời, non, nước,
Zừg chân dứg lại trời, non, nưs,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.
Một mảh tìh riz, ta với ta.


C. LỜI CUỐI

• Chữ cải tiến Chữ Việt Nhanh nầy đã được TS. Ngô Đình Học, tác giả bộ gõ WinVNKey http://winvnkey.sf.net, tích hợp toàn bộ (chỉ trừ: I thay Y, Y thay UY) vào WinVNKey, để tạo ra một phương pháp mới gõ tắt chữ Việt. Gõ chữ cải tiến mà máy tính vẫn hiện ra chữ Việt trọn vẹn.
Kết quả, tiết kiệm gần 40% thời gian gõ. Chỉ cần tải xuống bản WinVNKey nén sẵn phương pháp gõ tắt này, rồi gõ ngay, chứ không cần cài đặt.
Xin đọc bài hướng dẫn “Gõ nhanh chữ Việt cách Tubinhtran với WinVNKey” ở http://chuvietnhanh.sourceforge.net/GoNhanhChuVietCachTubinhtranVoiWinvnkey

• Chữ cải tiến nầy cũng đã được kĩ sư Huỳnh Trọng Nghĩa tích hợp vào bộ gõ trực tuyến (online) S-Key. Ước tính, tiết kiệm gần 40% thời gian gõ.
Ta không cần tải xuống bộ gõ vào máy. Chỉ gõ tiếng Việt trong khung ở màn hình theo cách gõ bình thường với Kiểu gõ dấu Tubinhtran-MS, hoặc gõ nhanh hơn rất nhiều nếu kết hợp với cách gõ Chữ Việt Nhanh.
Gõ xong thì sao chép và dán qua nơi khác như: email, Microsoft Word, diễn đàn, v.v.
Xin vào đường dẫn http://s-key.sf.net để xem hướng dẫn cụ thể.

• Gần đây, nhân đọc bài viết này, nhà giáo Đặng Thái Long (Đại học Sư phạm Toán - Hà Nội) thấy vần “ương” có tần suất sử dụng cao trong tiếng Việt nên đã đề nghị khi đứng cuối từ (hoặc đứng một mình), có thể thay thế “ương” bằng chữ z (chỉ dùng khi ghi chép tay riêng tư cho nhanh). Những ai thích viết tay tốc kí, xin đọc bài “Hồn Trương Ba – Da hàng thịt” của nhà giáo Đặng Thái Long: http://chuvietnhanh.sourceforge.net/HonTruongBaDaHangThit.htm .

• Một số đề xuất là của những người đi trước đã nêu ra khi bàn về vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ. Sau đây là xuất xứ của chúng:

  • Bỏ bớt dấu sắc ở vần ngược: Được thấy đầu tiên trong bài viết của ông Dương Tự Nguyên: Một ý kiến về sự sửa đổi chữ Quốc ngữ, Văn học tạp chí, số 5, 15-10-1932, và các số tiếp theo. (trích sách Vấn đề cải tiến chữ Quốc ngữ, Nxb. Văn Hóa, Hà Nội, 1961, tr.79).
  • I thay Y: I thay cho y khi y là nguyên âm duy nhất trong chữ được thấy trong tự điển: Nouveau Dictionnaire Français-Annamite, Imp. de la Mission, Sài Gòn, 1922. (trích sách 100 năm phát triển tiếng Việt, Phụng Nghi, Nxb Văn Nghệ, Hoa Kỳ, 1999, tr.134).
  • Y thay UY: Được thấy đầu tiên trong các tham luận của ông Nguyễn Trọng Phấn, Hoàng Tụy, Nông Ích Thùy và Phó Đức Thành, đọc tại hội nghị về ‘Vấn đề cải tiến chữ Quốc ngữ’ năm 1960 tại Hà Nội. (sđd. Vấn đề cải tiến chữ Quốc ngữ, tr.309, 335, 341, 348).
  • F thay PH: Đề nghị của ông Ngô quang Châu, in trong sách Chữ của dân tộc, Hà Nội, 1946, tr.122. (sđd. Vấn đề cải tiến chữ Quốc ngữ, tr.62).
  • Q thay QU: Được thấy trong tham luận của ông Hoàng Tụy, đọc tại hội nghị về ‘Vấn đề cải tiến chữ Quốc ngữ’ năm 1960 tại Hà Nội. (sđd. Vấn đề cải tiến chữ Quốc ngữ, tr.335).
  • C thay K: Đề nghị này của ông Ngô quang Châu, in trong sách Chữ của dân tộc, Hà Nội, 1946, tr.122. (sđd. Vấn đề cải tiến chữ Quốc ngữ, tr.62).
  • K thay KH: Được thấy đầu tiên ở các tham luận của ông Hoàng Tụy và ông Phó Đức Thành, đọc tại hội nghị về ‘Vấn đề cải tiến chữ Quốc ngữ’, năm 1960 tại Hà Nội. (sđd. Vấn đề cải tiến chữ Quốc ngữ, tr.335, 348).
  • Z thay D: Đề nghị này được thấy đầu tiên trong sách của ông E.F. Aymonier, Nos transcriptions, Excursions et Reconnaissances, Saigon, 1886, tome XII. (sđd. Vấn đề cải tiến chữ Quốc ngữ, tr.45).
  • D thay Đ: Đề nghị này của ông Legrand de la Liraye, in trong tự điển Dictionnaire élémentaire annamite-français, Saigon, 1868, tr.3. (sđd. Vấn đề cải tiến chữ Quốc ngữ, tr.43).
  • J thay GI và G thay GH: Đề nghị này của ông E.F. Aymonier, in trong Nos transcriptions, Excursions et Reconnaissances, Saigon, 1886, tome XII. (sđd. Vấn đề cải tiến chữ Quốc ngữ, tr.45).
  • W thay NG và NGH: Gần đây, nhân đọc bài viết này, TS. Nguyễn Vĩnh-Tráng thấy chữ W chưa được dùng ở vị trí phụ âm đầu nên đã đề nghị dùng W thay cho hai phụ âm đầu NG và NGH (W = NG =NGH). Xin mời đọc bài “Có nên thêm phụ âm đầu W trong « Tốc Kí Chữ Việt » chăng?” của TS. Nguyễn Vĩnh-Tráng ở:http://chuvietnhanh.sf.net/ThemPhuAmDauWTrongTocKyChuViet.htm (hoặc ở http://chimviet.free.fr/ngonngu/nguyenvinhtrang/nvtrn054_VietTatChuViet.htm).
  • Bỏ bớt N ở phụ âm cuối chữ NG và NH: Đề nghị này tuy chưa ai chính thức nêu ra nhưng lâu nay nhiều người vẫn thường bỏ bớt n ở phụ âm cuối ng và nh để viết cho nhanh.
  • K thay phụ âm cuối chữ CH: Đề nghị này tuy chưa ai chính thức nêu ra nhưng lâu nay nhiều người vẫn thường dùng k thay phụ âm cuối chữ ch để viết cho nhanh.


D. BẢNG TÓM TẮT

Đường dẫn để in “Bảng tóm tắt cách cải tiến Chữ Việt Nhanh”:
http://chuvietnhanh.sourceforge.net/BangTomTatCachCaiTienChuVietNhanh(CoDau).pdf

Hoặc xem hình dưới đây:
 
Chữ Việt Nhanh: Một kiểu chữ Việt cải tiến Image010
_______________
CHÚ THÍCH

(¹) “Trong bảng các khuôn của tiếng Việt, còn có một nhóm khuôn rất đặt biệt, đó là các khuôn mà thành phần nguyên âm không phải là một nguyên âm đơn, mà là một trong các nguyên âm đôi ia/iê, ua/uô, ưa/ươ.
Như chúng ta đã biết, trước kia Đuy-boa, rồi về sau Nguyễn Triệu Luật, đều đã có nhận xét rằng ia và  (trong iên, iêu, v.v…), ua và  (trong uôn, uôi, v.v…), và ưa và ươ (trong ươn, ươi, v.v…) thật ra chỉ là một.
Sau này, Lê Văn Lý, Nguyễn Bạt Tụy, E-mơ-nô, và gần đây Goóc-đi-na cũng thống nhất như thế. Nhưng khi đi vào phân tích cụ thể hơn, thì ý kiến lại chưa nhất trí. (…)
Kết luận, Lê Văn Lý cho rằng ia/iê, ua/uô, ưa/ươ có tính chất một âm vị và đáng lẽ chỉ nên viết bằng một kí hiệu đơn nhất mà thôi. (…)
Nếu kết luận như trên là đúng, thì có một số vấn đề nên nghiên cứu để cải tiến chữ Quốc ngữ cho hợp lí hơn và giản tiện hơn.
Nên nghiên cứu viết thống nhất bằng một cách nguyên âm đôi [iƏ], [uƏ], ưƏ]. Hiện nay, khi thì viết ia, ua, ưa; khi thì viết iê, uô, ươ, là không hợp lí.
Để cho gọn hơn, giản tiện hơn, cũng nên nghiên cứu viết [iƏ], [uƏ], ưƏ] bằng một kí hiệu đơn nhất, bằng một con chữ đơn mà thôi.”
(Trích sách Vấn đề cải tiến chữ Quốc ngữ, Nxb. Văn Hóa, Hà Nội, 1961, tr.164, 165, 166, 167).

(²) “Một số khuôn, thành phần nguyên âm là [iƏ], có thể đứng riêng một mình làm thành âm tiết: iêm, iên, iêt, iêu; những âm tiết này chữ Quốc ngữ lại viết yêm, yên, yêt, yêu, với con chữ y (nhưng nếu có thêm phụ âm đầu, thì lại viết với con chữ i: viết tiêm, tiên, tiêt, tiêu, không viết tyêm, tyên, tyết, tyêu). Con chữ y ở đây là một bất hợp lí, nên xóa bỏ và thay bằng con chữ i, nghĩa là nên viết iếm thế, iên ổn, iết kiến, iêu thương.”
(Trích sách Vấn đề cải tiến chữ Quốc ngữ, Viện Văn Học, Nxb. Văn Hoá, Hà nội, 1961, tr. 167).

(³) Xem bài Có cần thiết phải học đánh vần khi dạy tiếng Việt không? , Trần Tư Bình, http://chuvietnhanh.sourceforge.net/CoCanThietPhaiHocDanhVanKhiDayTiengVietKhong.htm)

_________________________________________________________________​


Copyright: Trần Tư Bình (Email: tubinhtran@gmail.com, Website: Chữ Việt Nhanh http://chuvietnhanh.sf.net, Fanpage Chữ Việt Nhanh: https://facebook.com/fanpageCVN)

Đường dẫn để in bài “Chữ Việt Nhanh: Một kiểu chữ Việt cải tiến”:
http://chuvietnhanh.sf.net/ChuVietNhanhMotKieuChuVietCaiTien.pdf

Vài nét về tác giả: Trần Tư Bình

Chữ Việt Nhanh: Một kiểu chữ Việt cải tiến Image012

- Sinh năm 1954, tốt nghiệp Sư Phạm Tiểu Học Đà Nẵng khóa 1972-1974.
- Tốt nghiệp khoa Ngữ Văn, năm 1977, Đại Học Tổng Hợp, TP.HCM (ĐH. Văn khoa Sài Gòn)
- Dạy môn Văn trường THPT cấp 3 Lý Thường Kiệt, Hóc Môn, TP.HCM, các niên khóa 1977-1980.
- Dạy Việt ngữ cuối tuần ở Sydney từ năm 1987-2009 (Trường Văn hóa Việt Nam Bankstown, Sydney, Úc).
- Hiệu Trưởng trường Văn hóa Việt Nam Marrickville, Sydney, Úc, từ năm 2010 đến 2016 (thuộc hệ thống Liên Trường Văn Hóa Sydney, thành lập từ 1982 www.trangvhvn.wordpress.com )
- Chủ nhiệm trang web Chữ Việt Nhanh (www.chuvietnhanh.sf.net), gồm bài vở và các sưu tầm hữu ích liên quan đến chữ Việt trong thời đại internet.
______________

NGUỒN: http://chuvietnhanh.sourceforge.net/ChuVietNhanhMotKieuChuVietCaiTien.htm

_________________
Chữ Việt Forum
www.chuviet.net
Admin
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 234
Join date : 20/09/2012

http://www.chuviet.net

Về Đầu Trang Go down

Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết